Skip to main content

Bình luận khoa học pháp lý: “ MỘT VÀI TRAO ĐỔI VỀ THỜI HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH”

(30/06/2020 16:25)

Trong hoạt động pháp lý nói chung, hoạt động tố tụng tại Tòa án nói riêng thì vấn đề xác định thời hạn là rất quan trọng. Việc xác định thời hạn, tính thời hạn và áp dụng thời hạn vào các hoạt động tố tụng đòi hỏi phải được hiểu một cách thống nhất, cụ thể, rõ ràng, chính xác và đảm bảo đúng theo tinh thần của pháp luật. Tuy nhiên trên thực tế có một số trường hợp còn phát sinh những quan điểm khác nhau về việc tính thời hạn, từ đó dẫn đến việc áp dụng không thống nhất pháp luật.

Trong phạm vi bài biết này, tôi xin trình bày một vài ý kiến trao đổi về thời hạn và cách tính thời hạn trong hoạt động tố tụng dân sự nhằm nghiên cứu thêm về vấn đề trên.

Trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu thời hạn theo nghĩa thông thường là gì? Thời hạn theo quy định của pháp luật là gì?

Theo từ điển tiếng Việt thì “thời hạn” là danh từ, có nghĩa là “khoảng thời gian quy định để làm việc gì” (Từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam – Xuất bản năm 2013 – Trang 1031)

Về mặt pháp lý, theo quy định tại Điều 144 Bộ luật Dân sự 2015 (sau đây viết tắt là BLDS) thì “(1). Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. (2) Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra”.

Căn cứ vào nghĩa tiếng Việt và quy định pháp lý về “thời hạn” nói trên, ta có thể tạm hiểu ý nghĩa của “thời hạn” là muốn nói tới khoảng thời gian xác định để từ đó làm căn cứ giải quyết các vấn đề có liên quan. Trong quan hệ pháp luật dân sự, hiểu rõ về thời hạn là rất quan trọng. Chẳng hạn như thời hạn sẽ xác định tính hợp pháp của giao dịch, thời hạn là điều kiện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể, thời hạn để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng áp dụng vào việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ luật định… Và trong hoạt động tố tụng dân sự tại Tòa án nói riêng, các cơ quan tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nói chung, việc xác định thời hạn (và tính thời hạn) càng phải được hiểu một cách thống nhất, cụ thể, rõ ràng, chính xác và đảm bảo đúng theo tinh thần của pháp luật

Theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sau đây viết tắt là BLTTDS) quy định về thời hạn tố tụng thì “(1) Thời hạn tố tụng là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện hành vi tố tụng do Bộ luật này quy định. (2) Thời hạn tố tụng có thể được xác định bằng giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra.”

Thực tiễn cho thấy, các hoạt động tố tụng dân sự đều căn cứ vào việc xác định thời hạn rất nhiều. Vì vậy, việc nghiên cứu về thời hạn càng có ý nghĩa quan trọng đối với người làm công tác pháp luật, đặc biệt là cán bộ, công chức ngành Tòa án.

Căn cứ quy định tại Điều 183 BLTTDS thì “Cách tính thời hạn tố tụng, quy định về thời hạn tố tụng, thời điểm bắt đầu, kết thúc thời hạn tố tụng trong Bộ luật này được áp dụng theo các quy định tương ứng của Bộ luật dân sự.”

Qua nội dung trên cho thấy, BLTTDS đã xác định việc tính thời hạn tố tụng và các vấn đề liên quan sẽ được áp dụng theo quy định tương ứng của Bộ luật dân sự. Theo cá nhân tôi, đây là một quy định rất hay, hợp lý, vừa đạt được mục tiêu là đặt ra quy phạm pháp luật cụ thể, vừa tiện lợi, đơn giản mà vẫn đảm bảo sự thống nhất của các văn bản pháp luật.

BLDS quy định về cách tính thời hạn cũng như thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hạn cụ thể như sau:

Áp dụng cách tính thời hạn: “(1) Cách tính thời hạn được áp dụng theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. (2). Thời hạn được tính theo dương lịch, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” – Điều 145 BLDS.

Quy định về thời hạn, thời điểm tính thời hạn: Căn cứ quy định tại Điều 146 BLDS, chúng ta thấy rằng pháp luật đã quy định rất rõ ràng về thời hạn, thời điểm tính thời hạn trong các trường hợp rất đầy đủ, từ một năm, nửa năm đến một tháng, nửa tháng thậm chí cả giờ, phút, giây… và các thời điểm hết sức cụ thể. Do đó, tôi sẽ không trích dẫn và phân tích thêm về điều luật này.

Về việc xác định thời điểm bắt đầu thời hạn căn cứ theo Điều 147 BLDS

1. Khi thời hạn được xác định bằng phút, giờ thì thời hạn được bắt đầu từ thời điểm đã xác định.

2. Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định.

3. Khi thời hạn bắt đầu bằng một sự kiện thì ngày xảy ra sự kiện không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề của ngày xảy ra sự kiện đó.”

Khi xác định thời điểm kết thúc thời hạn thì căn cứ theo Điều 148 BLDS

1. Khi thời hạn tính bằng ngày thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn.

2. Khi thời hạn tính bằng tuần thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tuần cuối cùng của thời hạn.

3. Khi thời hạn tính bằng tháng thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tháng cuối cùng của thời hạn; nếu tháng kết thúc thời hạn không có ngày tương ứng thì thời hạn kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng đó.

4. Khi thời hạn tính bằng năm thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày, tháng tương ứng của năm cuối cùng của thời hạn.

5. Khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.

6. Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư giờ của ngày đó.

Các quy định trên của BLDS đều rất rõ ràng, cụ thể và đầy đủ nên tôi sẽ không phân tích thêm về chi tiết.

Áp dụng các quy định vừa nêu, tôi đưa ra một vài ví dụ cụ thể như sau:

Ví dụ 1: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 212 BLTTDS, Thẩm phán sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

C:\Users\thonghm\Pictures\hinh1a.jpg

Giả sử Tòa án lập biên bản giải thành cho các đương sự vào ngày 19/12/2019 (thứ năm). Căn cứ các quy định vừa phân tích, thì ngày ra quyết định sẽ là ngày 27/12/2020 (thứ sáu tuần tiếp theo). Cụ thể: Ngày thứ năm 19/12/2019 là ngày lập biên bản hòa giải thành (là ngày xác lập sự kiện), do đó, “kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành” sẽ tính từ ngày tiếp theo (20/12/2019) theo quy định tại khoản 3 Điều 147 BLDS. Còn “hết thời hạn 07 ngày” sẽ tính trọn vẹn các ngày 20-21-22-23-24-25-26 (đủ 07 ngày), kết thúc vào lúc hai mươi tư giờ của ngày 26/12/2019 (thứ năm tuần tiếp theo) theo quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 148 BLDS. Như vậy, kể từ thời điểm bắt đầu ngày 27/12/2019 (thứ sáu tuần tiếp theo) là Thẩm phán có thể ra quyết định công nhận công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu trong các ngày nói trên không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận.

Ví dụ 2: Sử dụng trường hợp như trên, nhưng giả thuyết Tòa án lập biên bản giải thành cho các đương sự vào ngày 20/12/2019 (thứ sáu).

C:\Users\thonghm\Pictures\hinh2a.jpg

Áp dụng tương tự các căn cứ tại ví dụ 1, trường hợp bình thường sẽ cho kết quả ngày Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận cho các đương sự rơi vào ngày 28/12/2019 (thứ bảy). Tuy nhiên, Tòa án không làm việc vào ngày thứ bảy 28/12/2019 và chủ nhật 29/12/2019, nên thời hạn vào các ngày này (ngày nghỉ) sẽ dời sang ngày làm việc tiếp theo vào ngày 30/12/2019 (thứ hai) theo quy định tại các Điều 147, 148 BLDS như đã trích dẫn.

Ví dụ 3: Theo quy định tại khoản 1 Điều 273 BLTTDS thì “thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án…”; Trường hợp này chúng ta sẽ tính thời hạn kháng cáo là trọn vẹn 15 ngày bắt đầu từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án bởi ngày tuyên án là ngày xác lập sự kiện (theo quy định tại khoản 3 Điều 147 BLDS). Vì vậy, chúng ta chỉ cần ghi theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 273 BLTTDS là “trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án” là chính xác, không cần phải ghi “trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án”.

Quan việc phân tích các quy định pháp luật liên quan và điểm qua một vài ví dụ điển hình, có thể vận dụng tương tự đối với các trường hợp xác định và tính thời hạn trong việc kháng cáo, khiếu nại, chuyển giao văn bản tố tụng, các thủ tục về tố tụng cần áp dụng thời hạn… Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn nhiều trường hợp tương đối đặc biệt, quy định pháp luật chưa được cụ thể, chưa rõ ràng, có thể dẫn đến những cách hiểu, quan điểm áp dụng khác nhau, gây không ít khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong việc thực thi quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.

Trên đây là một vài ý kiến cá nhân của người viết về quy định về thời hạn trong BLDS và BLTTDS, xin được nêu ra để cùng trao đổi.

          Nguyễn Trí Khương – TAND quận Ô Môn


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 37
cdscv