Skip to main content

Bình luận khoa học pháp lý: "Một số ý kiến về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ"

(03/12/2019 08:00)

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (viết tắt là BLTTDS năm 2015) thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có nhiệm vụ và quyền hạn tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (khoản 7 Điều 48 BLTTDS năm 2015), trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

Như vậy, theo quy định này thì Thẩm phán phải tiến hành hai nội dung khác nhau: Một là, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Hai là, phiên hòa giải giữa các đương sự trong vụ án (ngoại trừ trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải theo quy định tại Điều 206 của BLTTDS năm 2015). Trường họp khi các bên đương sự không hòa giải được thì vụ án sẽ được đưa ra xét xử, đây có thể coi là bước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án. Vì vậy, trước khi tiến hành mở phiên họp kiểm tra và phiên hòa giải, Thẩm phán cần phải hoàn tất các nhiệm vụ của mình để làm sáng tỏ nội dung vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

Chế định phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là một quy định hoàn toàn mới của BLTTDS năm 2015, mục đích của phiên họp này là để thực hiện quyền của đương sự, cụ thể là quyền giao nộp, nghĩa vụ công khai chứng cứ, cũng như tiếp cận các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Trong quá trình vận dụng quy định này trên thực tế có một số nội dung vận dụng chưa thống nhất giữa các Thẩm phán với nhau, cụ thể như về thành phần tham gia phiên họp, sự vắng mặt của đương sự tại phiên họp, nghĩa vụ thông báo kết quả của phiên họp cho đương sự vắng mặt. Với phạm vi của bài viết này tác giả xin trao đổi một số vấn đề liên quan đến phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ như sau:

- Một là, đối với vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không hòa giải được thì có lập biên bản về việc kiểm tra, việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ không?

Theo quy định tại Điều 208 của BLTTDS năm 2015 thì trước khi mở phiên họp kiểm tra và phiên hòa giải, Thẩm phán được giao nhiệm vụ giải quyết vụ án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp. Như vậy, theo quy định này thì tất cả các đương sự trong vụ án có nghĩa vụ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Trường họp các đương sự có mặt tại phiên họp thì họ sẽ kiểm tra lại các tài liệu, chứng cứ của họ đã giao nộp, thuộc tính của chứng cứ đó, cụ thể như bản gốc hay bản photocopy, trường hợp họ phát hiện chưa đúng về thuộc tính của chứng cứ mà mình đã giao nộp thì họ có quyền khiếu nại. Chẳng hạn trong quá trình giải quyết vụ án thì nguyên đơn đã nộp bản gốc của Biên nhận nợ đề ngày 01/3/2015, nhưng khi công bố là bản photocopy thì họ sẽ thực hiện quyền khiếu nại. Đồng thời đương sự sẽ tiếp cận được các tài liệu, chứng cứ mà các đương sự khác cũng như của Tòa án đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Chính vì vậy, đối với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ phải được áp dụng đối với tất cả các vụ án dân sự, kể cả những vụ án không được hòa giải hoặc hòa giải không được.

Trên thực tế có quan điểm cho rằng đối với những vụ án dân sự không được hòa giải hoặc hòa giải không được thì không phải tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Lập luận của ý kiến này cho rằng việc tổ chức phiên họp trong trường họp trên là không mang lại ý nghĩa và mất thời gian, đơn cử như trường họp các đương sự trong vụ án đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải hoặc các đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt họ.

Tuy nhiên, đối với ý kiến này là chưa phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện nay, cụ thể theo quy định tại khoản 2 Điều 208 của BLTTDS năm 2015 thì “Trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không hòa giải được quy định tại Điều 206 và 207 của Bộ luật này thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải”. Như vậy, theo quy định này vụ án thuộc trường họp không được hòa giải hay hòa giải không được thì Thẩm phán vẫn phải tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định mà không được bỏ qua thủ tục này. Việc viện dẫn cho rằng trường hợp vụ án không tiến hành hòa giải được hoặc có các đương sự yêu cầu giải quyết vắng mặt thì không tiến hành phiên họp phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng, quan điểm này là chưa phù họp, cụ thể là hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng là hai chế định hoàn toàn khác nhau, không phải là một hoạt động tố tụng, cụ thể được thể hiện bằng hai biên bản hoàn toàn khác nhau, trình tự, nội dung cũng như quyền, nghĩa vụ của các đương sự của hai chế định này cũng khác nhau. Trường hợp vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 hoặc các đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt,v.v… thì đây là quyền của đương sự đối với hòa giải, chúng ta không đồng nhất việc họ yêu cầu không hòa giải hoặc xin giải quyết vắng mặt mà không tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là chưa đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Hai là, phiên hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì Tòa án lập mấy biên bản?

Trong quá trình vận dụng trên thực tế thì có trường hợp Thẩm phán lập hai biên bản gồm một biên bản hòa giải và một biên bản phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; tuy nhiên cũng có không ít trường hợp Thẩm phán chỉ lập một biên bản duy nhất là Biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mặc dù biên bản này có đầy đủ những nội dung theo quy định của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và những nội dung của một phiên hòa giải, nhưng xét về trình tự, thủ tục thì chưa đúng quy định. Bởi lẽ, về bản chất và trình tự tố tụng thì hai quy định này khác nhau về ý nghĩa và bản chất, đồng thời cũng khác nhau về quyền cũng như nghĩa vụ của đương sự. Cho nên, tránh ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như đảm bảo việc vận dụng pháp luật tố tụng dân sự được thống nhất thì Thẩm phán cần phải tách phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bằng hai biên bản khác nhau theo tinh thần của BLTTDS năm 2015.

- Ba là, đối với trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp bằng hình thức nào?

Theo quy định tại khoản 3 Điều 210 của BLTTDS năm 2015 quy định “Trường hợp người được Tòa án triệu tập vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho họ”. Như vậy, theo quy định này có một thủ tục là Tòa án phải thông báo cho đương sự vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 không quy định trường hợp này Thẩm phán phải thông báo cho đương sự vắng mặt biết bằng văn bản gì, nội dung cũng như hình thức thông báo, cho đến thời điểm hiện tại Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng không có văn bản hướng dẫn đối với chế định này. Trên thực tế hiện nay để thực hiện quy định này để tránh việc vi phạm tố tụng thì Thẩm phán sẽ ban hành một Thông báo riêng đối với đương sự vắng mặt trong đó có nội dung bao gồm kết quả công bố chứng cứ, phần trình bày của các đương sự có mặt, phần Thẩm phán chốt ý kiến của các đương sự. Nhưng có trường hợp Thẩm phán tống đạt Biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ (bản photocopy) hoặc niêm yết công khai (nếu thuộc trường hợp niêm yết) đối với đương sự vắng mặt của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

Mặc dù, với hình thức một thông báo hay tống đạt biên bản thì cũng mang nội dung là thông báo cho đương sự vắng mặt biết kết quả của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Cho nên, để tránh trường hợp có vi phạm tố tụng cụ thể là trách nhiệm của Tòa án trong việc thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt thì nhất thiết Thẩm phán phải lựa chọn cho mình một hình thức thông báo cho phù hợp. Nếu Thẩm phán bỏ qua nội dung quy định này là có thiếu sót trong hoạt động tố tụng và phải khẳng định đây là trách nhiệm của Tòa án.

- Bốn là, phiên hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hoạt động nào diễn ra trước?

Một thực tế nữa là phiên hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoạt động nào diễn ra trước, đối chiếu quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì không có quy định cụ thể là phiên hòa giải trước hay phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trước. Trên thực tế các Thẩm phán vận dụng chưa được thống nhất với nhau, theo quan điểm cá nhân của tác giả đối chiếu trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trước rồi tới quy định về phiên hòa giải. Mặt khác, xét về bản chất thì để đương sự hòa giải được với nhau, nhất là đảm bảo chất lượng hòa giải nêu cao tinh thần tự định đoạt của đương sự trong công tác giải quyết án dân sự thì để đương sự nắm được những chứng cứ có lợi, cũng như bất lợi liên quan đến bản thân mình. Từ đó có thể suy ra là phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ phải diễn ra trước, kết thúc xong thì Thẩm phán sẽ tiến hành hòa giải giữa các đương sự, có như vậy mới đảm bảo đúng tinh thần cũng như chất lượng và kết quả giải quyết, cụ thể là kết quả hòa giải giữa các đương sự.

- Năm là, mỗi lần hòa giải thì nhất thiết phải tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ không, hiện nay pháp luật tố tụng dân sự không có quy định này. Tuy nhiên, luật không bắt buộc Thẩm phán khi tổ chức phiên hòa giải phải tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Cho nên không nhất thiết khi tiến hành hòa giải phải tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tuy nhiên, chúng ta phải đảm bảo là tất cả các tài liệu, chứng cứ gồm của đương sự giao nộp, cũng như của Tòa án thu thập đã được công khai cho các đương sự trong vụ án biết. Chính vì vậy, nếu có chứng cứ mới chưa được công khai mà chứng cứ đó dẫn đến chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, ý kiến của đương sự trong vụ án thì nhất thiết phải công khai cho các đương sự trong vụ án biết.

Để tránh có những sai sót, vận dụng chưa thống nhất quy định của BLTTDS năm 2015 đối với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trên thực tế, do đây là một quy định mới nhưng đến thời điểm hiện tại chưa được hướng dẫn bằng một văn bản chính thức của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, nên chúng ta phải bám chặt vào những nội dung cơ bản được quy định trong BLTTDS năm 2015 và ý nghĩa của chế định này để tranh những sai sót, khiếm khuyết không đáng có trong quá trình vận dụng./.

Phan Vũ Linh

TAND quận Cái Răng, Tp. Cần Thơ


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 901
cdscv